Đặc Điểm Phát Triển Ngành Công Nghiệp Hóa Chất Tại Việt Nam

Đặc Điểm Phát Triển Ngành Công Nghiệp Hóa Chất Tại Việt Nam

Đặc điểm của ngành công nghiệp hoá chất là đa đạng về sản phẩm phục vụ cho tất cả các ngành kinh tế kỹ thuật. Từ đó ngành công nghiệp này có thể khai thác mọi thế mạnh tài nguyên của đất nước từ khoáng sản, dầu khí tới sản phẩm, phụ phẩm và thậm chí cả phế thải của công nghiệp, nông nghiệp… Công nghiệp hoá chất đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế của một nước đây cũng chính là lý do vì sao người ta nói hóa chất là máu của ngành công nghiệp. Đó là một ngành kinh tế – kỹ thuật chủ lực của đất nước.

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, những cải cách kinh tế đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp – nông nghiệp. Nhu cầu về nguyên liệu hoá chất cũng ngày càng tăng với tốc độ tăng trưởng sản xuất hoá chất hằng năm là 15%. Sự tăng trưởng kinh tế đó đẫn đến gia tăng lượng chất thải và phát sinh nhiều chủng loại chất thải độc hại. Tình trạng đó đã tác động đến môi trường.

Việt Nam đang trong tình trạng thiệt hại về môi trường ở mức cao (khoảng 10% GDP) và giá trị này đang có khuynh hướng gia tăng (theo TS. Trương Mạnh Tiến). Các dây chuyền sản xuất hoá chất hoặc có sử dụng hoặc thiếu nhiều trang bị an toàn. Công nghệ sản xuất sạch hơn trong sản xuất hoá chất còn chưa được áp dụng rộng rãi. Nhiều hoá chất độc hại trong dây chuyền chưa được thay thế. Các cơ sở sản xuất còn thiếu hệ thống xử lý chất thải.

Theo số liệu điều tra của Bộ Công nghiệp Việt Nam và cơ quan hợp tác quốc tế nhật bản (JICA) cả nước có 3.311 nhà máy đã được xác định là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Đa số các cơ sở đóng tại khu vực dân cư. Các nguồn gây ô nhiễm phân bố ở các ngành công nghiệp thực phẩm, hoá chất, vật liệu xây dựng. Trong đó, công nghiệp hoá chất chiếm tỉ lệ khá cao, 432 nhà máy (chiến 12,3%).

Trong những năm qua, nhiều sự cố môi trường do rò rỉ hoá chất đã xảy ra. Nổi bật là vụ rò rỉ khí mêtan ngày 11/01/1999 ở mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh làm 19 người chết, 12 người bị thương; hay vụ ngạt khí mêtan ngày 06/07/2000 tại công ty thủy sản Cam Ranh, Khánh Hoà làm 4 người chết (theo “hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000”, báo cáo của Bộ KHCN&MT trình Quốc hội khoá X). Vấn đề môi trường ở các nhà máy sản xuất hoá chất thường xuyên được đặt ra. Tại mỗi nhà máy cần có những đánh giá tình trạng môi trường và hiệu quả của những biện pháp kiểm soát môi trường tại cơ sở.

Công nghiệp Việt Nam đặt ra nhu cầu về xử lý – tận dụng chất thải của ngành hoá chất và đây cũng là nhiệm vụ của ngành hoá chất trong quá trình xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững.

Các chuyên ngành chính của công nghiệp hoá chất Việt Nam là:

  • Phân bón
  • Hoá chất bảo vệ thực vật
  • Hoá chất cơ bản; sản phẩm cao su, nhựa
  • Chất tẩy rửa
  • Điện hoá
  • Sơn, chất dẻo.

Trong năm 1999, công nghiệp hoá chất đã đạt được sản lượng phân lân 1.000 tấn, phân ure110.000 tấn; thuốc trừ sâu: 15.000 tấn; chất tẩy rửa: 97.000 tấn; xút: 15.000 tấn; pin: 150 triệu chiếc; lốp xe đạp: 8 triệu chiếc.

Công nghiệp hoá chất Việt Nam phân bố ở ba vùng tập trung: Hà Nội – Hải Phòng; TPHCM – Đồng Nai; Vĩnh Phúc – Lào Cai.

Đến nay, TCTHC Việt Nam gồm có 46 đơn vị thành viên và 17 công ty liên doanh trong nước và với nước ngoài. Tổng Công ty sản xuất 33 nhóm sản phẩm chủ yếu phục vụ nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và tiêu dùng gồm:

Hoá chất phục vụ nông nghiệp

  • Phân bón: phân lân (lân nung chảy, DAP…), phân đạm (urê,…), phân NPK,
  • Hoá chất bảo vệ thực vật

Hoá chất vô cơ cơ bản

  • Xút, soda, axit sulfuric, axit clohydric, axit photphoric,…

Hoá chất công nghiệp

  • Đất đèn (CaC2), oxy (O2), cacbonic (CO2), than hoạt tính (C), amoniac, phụ gia sản phẩm dầu mỏ, que hàn, nguyên liệu nhựa (PVC, DOP…)…

Hoá chất tiêu dùng

  • Xăng dầu, chất tẩy rửa, cao su, pin ắc quy, sơn…

Năm 2000 giá trị tổng sản lượng của công ty đạt 6.227 tỉ đồng, tăng 19,7% so với năm 1999. (theo Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam)

About admin