Tính chất hóa học của cà phê
Nhóm chất hữu cơ có trong cà phê bao gồm: Nước, các loại Cacbohydrat (Glucid) trong cà phê, thành phần Protein trong cà phê, các Axit hữu cơ, lipid trong cà phê
Nhóm chất hương, chất khoáng bao gồm: Các Alcaloid, Chất thơm, Chất khoáng (3-5% chủ yếu là Kali, Nito , Magie , Photpho, Clo)
Hóa chất hương, tạo mùi cà phê
Tại chợ kim biên các ki ốt bày bán hóa chất công nghiệp, hương liệu pha chế cà phê, hương liệu pha chế cà phê từ Đức, Anh, Pháp, Malaysia, Indonesia… Ngoài ra còn có các hóa chất hương vani, hương trái cây, chất tạo giòn dai
Cà phê trộn hóa chất độc hại
Người ta còn sắc nước hạt cau để lấy chất tannin thêm vào để làm tăng vị đắng cho giông giống cà phê. Sau để tăng vị đắng có dùng một số chất như thuốc ký ninh.
Còn chất tạo bọt thường dùng là Sodium lauryl sunlfate, loại làm nước rửa chén, dầu gội đầu… Chất tạo bọt Sodium lauryl sunlfate chỉ dùng trong công nghiệp, không được dùng cho thực phẩm bởi nó độc hại và có nguy cơ gây ung thư.
Để tạo hương cũng sử dụng hương cà phê hóa học.
Để tăng độ sánh người ta thường thêm các chất tạo độ đặc như CMC.
Để có màu đen thì rang cháy bắp và đậu nành (sẽ có nguy cơ sinh các chất độc hại) và thêm caramel.
Như vậy, ly cà phê bẩn sẽ chứa nhiều nguy cơ gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.
Cà phê hóa chất tấn công người tiêu dùng
Sự rang trộn vì lợi nhuận bất chính và vì thị hiếu người tiêu dùng:
Còn lại, một con số phần trăm rất lớn, là những loại cà phê trộn với hóa chất, thứ phẩm, theo một quy trình rang xay vô cùng mất vệ sinh. Nếu trên thế giới, sau khi vượt qua giai đoạn khan hiếm, cà phê được trả lại đúng hương vị nguyên chất của nó, và những sản phẩm thay thế được dùng với mục đích khác; thì ở Việt Nam, từ nguyên nhân dễ thông cảm ấy lại hình thành nên một thói quen có hại mà khó sửa.
Để làm ra một kg cà phê thật mất từ 1,6 – 1,8kg hạt cà phê nguyên liệu, giá hiện tại loại rẻ nhất (độ dài hạt hơn 5mm) cũng gần 40.000 đồng/kg. Cộng thêm chi phí rang xay, đóng gói, vận chuyển…, và cho dù lậu thuế, một kg cà phê thành phẩm đã ở mức từ 100 – 110 ngàn đồng. Dưới mức này một chút là pha trộn (thêm bắp, đậu) và dưới nữa là không cà phê.
Năm ngoái, chủ một chuỗi cà phê rang xay tại chỗ ở Sài Gòn cũng chung nhận định, nhiều cơ sở đang bán cà phê bột với giá từ 45 – 60 ngàn/kg với hoa hồng từ 15 – 20%, chỉ là cà phê bẩn (bột ngũ cốc tẩm hoá chất). Để làm ra một ký cà phê nguyên chất (hạt) loại rẻ, chi phí đã lên đến khoảng 120 ngàn đồng (gồm: giá nguyên liệu, tỷ lệ hao hụt khi rang tẩm 30 – 40%, chi phí chế biến 10%, phân phối 20%…).
Ngược lại, chi phí cho một kg cà phê dỏm khoảng 30.000 đồng. Nếu rang khoảng 700g đậu nành, 500g bắp, 100g hạt cà phê (nếu không cà phê thì tăng đậu nành) cộng với hóa chất sẽ được 1kg cà phê bột. Với giá thành từ 45 – 60 ngàn đồng/kg, loại cà phê này bán dễ hơn – lợi thế cạnh tranh – so với cà phê thật. Tất nhiên, từ nhà sản xuất đến nhà phân phối kiếm lợi nhiều hơn.
Các hóa chất thường gặp trong ngành công nghiệp cà phê hóa chất
Chất tạo sánh
Một ly cà phê đen đặc luôn được đánh giá là cà phê ngon. Vì vậy mà nhiều người bán đã cho thêm chất tạo sánh nhe CMC (Carboxy methyl cellulose).
Chất tạo bọt
Chất tạo bọt cho nhiều loại cà phê chúng ta đang uống vốn dùng để tạo bọt nước rửa bát. Nhiều loại cà phê khác chứa chất độc gây teo tinh hoàn.
Chất tạo màu
Trước kia, người ta thường dùng đường kính. Khi rang, do nhiệt độ cao nên đường bị caramen hóa làm cho nước cà phê có mầu nâu đen đậm hơn, có vị đắng tương tự như vị đắng của cà phê và dư vị ngọt do đường còn sót lại rất khó phân biệt đâu là vị đắng do cafe đâu là do đường caramen
Tag: uống chống oxy trung xem máy
Công Ty Hóa Chất Hanimex HANIMEX Chemical