Tiểu đường tuýp 2 là gì
Bệnh tiểu đường tuýp 2 (tiểu đường type 2) là loại bệnh tiểu đường trong đó lượng đường trong máu bệnh nhân luôn cao do thiếu tác dụng của insulin. Bệnh tiểu đường được chia thành tiểu đường tuýp 1, tuýp 2, tiểu đường thai kỳ và các loại khác (tính đến tháng 3 năm 2018). Trong số đó, bệnh tiểu đường tuýp 2 là loại bệnh phổ biến nhất và chiếm hơn 90% trong bệnh tiểu đường nói chung. Phần lớn bệnh tiểu đường tuýp 2 khởi phát do chế độ ăn uống không lành mạnh, thiếu vận động hoặc do tình trạng béo phì và còn do các yếu tố môi trường.
Bệnh tiểu đường là một căn bệnh âm thầm tiến triển mà bệnh nhân thường không biết và không có triệu chứng ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, nếu tình trạng bệnh tiểu đường tiếp tục tiến triển có thể dẫn đến xuất hiện 3 biến chứng lớn là bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh thận tiểu đường, bệnh thần kinh ngoại biên (bệnh thần kinh tiểu đường). Bên cạnh đó, bệnh còn tăng nguy cơ dẫn đến các bệnh do tổn thương đại mạch như nhồi máu cơ tim và nhồi máu não.
Ngoài ra, một số bệnh khác như bệnh nha chu, suy giảm trí nhớ, ung thư, bệnh loãng xương cũng dễ xảy ra do bệnh tiểu đường. Bệnh nha chu được cho là có liên quan đến sự chuyển biến xấu đi của bệnh tiểu đường.

Nguyên nhân gây ra tiểu đường tuýp 2
Trong bệnh tiểu đường loại 2, có những trường hợp là do lượng tiết insulin bị giảm và cũng có trường hợp do chức năng insulin bị suy giảm (kháng insulin). Nguyên nhân của bệnh là do yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường.
+ Yếu tố di truyền
Đó là gen di truyền liên quan đến việc tiết insulin hoặc chức năng tuyến tụy và người ta nói rằng khi những bất thường về gen di truyền này chồng lên nhau, bệnh tiểu đường tuýp 2 có nhiều khả năng khởi phát hơn.
+ Yếu tố môi trường
Yếu tố môi trường là sự gia tăng lượng hấp thụ chất béo do béo phì, thiếu vận động và thói quen ăn uống theo phong cách Tây u. Ngoài ra còn liên quan đến chế độ ăn uống không cân bằng dinh dưỡng và thói quen ăn uống không lành mạnh.
Trong những năm gần đây, người ta đã chỉ ra rằng việc thiếu lượng hấp thụ chất xơ và magie do sự thay đổi chế độ ăn uống sau chiến tranh (như giảm mạnh lượng hấp thụ lúa mạch và ngũ cốc) có ảnh hưởng lớn đến sự khởi phát của bệnh tiểu đường tuýp 2.
Triệu chứng và dấu hiệu của bệnh tiểu đường tuýp 2
Bệnh tiểu đường tuýp 2 hầu như không có triệu chứng rõ ràng và bệnh nhân cũng không nhận biết được bệnh. Khi bệnh chuyển biến xấu đi và bệnh nhân rơi vào tình trạng tăng đường huyết ketosis và nhiễm toan ceton, sẽ xuất hiện các triệu chứng như khát nước, uống nhiều nước, đa niệu, cảm giác mệt mỏi và sụt giảm cân nặng…
+ Đa niệu
Khi lượng đường huyết cao, cơ thể sẽ đào thải bớt đường qua nước tiểu. Khi đó thận sẽ kéo nước từ trong cơ thể để pha loãng nước tiểu, khiến khối lượng nước tiểu tăng lên. Đây là lý do làm cho người bệnh thường xuyên đi tiểu.
+ Khát nước
Việc tiểu nhiều sẽ làm cơ thể tăng nhu cầu sử dụng nước để bù lại lượng nước đã mất. Điều này sẽ kích thích làm người bệnh luôn cảm thấy khát nước và uống nhiều nước hơn.
+ Cảm thấy kiệt sức
+ Da khô và ngứa
+ Cảm giác của chân tay bị giảm, thỉnh thoảng thấy hơi nhói đau
+ Hay bị nhiễm trùng
+ Đi tiểu nhiều lần
+ Mờ mắt
+ Có vấn đề về chức năng tình dục
+ Khó lành sẹo hay các vết bầm
+ Hay có các cảm giác rất đói hoặc rất khát
Khi bất cứ ai trong gia đình có triệu chứng trên, có thể họ đã mắc bệnh tiểu đường hay tiền tiểu đường. Chính vì vậy bạn hãy đi khám ngay để kiểm soát bệnh tốt hơn nhé. Ngoài ra mọi người cũng nên chú ý tới chế độ ăn uống thích hợp, chăm chỉ tập luyện thể dục thể thao, và cũng nên chú ý tới nguy cơ béo phì nữa nhé.
Biến chứng bệnh tiểu đường tuýp 2
Nếu bệnh tiểu đường tuýp 2 tiếp tục tiến triển sẽ tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng khác nhau. 3 biến chứng lớn là bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh thận tiểu đường, tổn thương thần kinh (bệnh thần kinh tiểu đường), ngoài ra còn gây ra các bệnh lây nhiễm khác nhau do khả năng miễn dịch của cơ thể giảm và các bệnh như nhồi máu cơ tim, nhồi máu não, xơ vữa động mạch tắc nghẽn do xơ vữa động mạch.
Nguyên nhân gây tiểu đường tuýp 2
Giảm nhạy cảm lnsulin là nguyên nhân chính gây bệnh tiểu đường tuýp 2. Đồng thời còn có các yếu tố khác như tăng yếu tố kích thích thần kinh, giảm đào thải đường qua nước tiểu, giảm lợi khuẩn đường ruột, tuổi, gen di truyền, yếu tố môi trường…
Kháng lnsulin là như thế nào? Có nghĩa lnsulin không giúp cho đường chuyển hóa được vào trong cơ bắp, thường xảy đến do ít vận động, dư cân và béo phì. Điều này giải thích tại sao hiện nay số người mắc tiểu đường tăng lên rất nhanh. Việc điều trị phải hướng đến giảm kháng lnsulin, từ đó mới có thể kiểm soát tốt đường huyết, mỡ máu và giảm thiểu biến chứng tiểu đường.
Các loại thuốc điều trị tiểu đường tuýp 2
1. Metformin (Dimethylbiguanide)
Là thuốc được sử dụng rộng rãi ở tất cả các quốc gia. Trước đây 30 năm là thuốc điều trị chính của đái tháo đường typ 2.
Các loại viên Metformin 500mg, 850mg, 1000 mg. Hiện nay Phenformin không còn lưu hành trên thị trường.
Liều khởi đầu viên 500 hoặc 850mg: 500 hoặc 850 mg (1 viên/ngày), thường uống vào buổi chiều, trước hoặc sau ăn.
Hiện nay liều tối đa khuyến cáo là 2000mg/ngày hoặc 850mg x 3 lần/ngày. Tăng liều hơn nữa không tăng thêm hiệu quả nhưng sẽ tăng tác dụng phụ.
Metformin tác động chủ yếu là ức chế sản xuất glucose từ gan nhưng cũng làm tăng tính nhạy của insulin ở mô đích ngoại vi. Tác động hạ glucose trong khoảng 2-4 mmol/l và có thể giảm HbA1c đến 2%. Vì nó không kích thích tuỵ chế tiết insulin nên không gây hạ glucose máu khi sử dụng đơn độc.
Metformin còn là thuốc được khuyến cáo lựa chọn dùng điều trị người đái tháo đường thừa cân, béo phì, để duy trì hoặc làm giảm cân nặng, thuốc còn có tác động có lợi đến giảm lipid máu.
Metformin có thể gây ra tác dụng không mong muốn ở đường tiêu hoá, nên dùng cùng bữa ăn và bắt đầu bằng liều thấp (500 mg/ngày).
* Chống chỉ định của metformin là suy tim nặng, bệnh gan (kể cả nghiện rượu), bệnh thận (creatinin máu > 160 µmol/l), người có tiền sử nhiễm toan lactic, do làm tăng nguy cơ nhiễm acid lactic. Metformin cũng chống chỉ định ở những trường hợp có thiếu oxy mô cấp như người đang có nhồi máu cơ tim, choáng nhiễm trùng…
2. Sulfonylurea
Sulfonylurea kích thích tuỵ tiết insulin. Tác động làm giảm glucose trung bình là 50 – 60 mg/dl, giảm HbA1c tới 2%. Sulfonylurea được dùng thận trọng với người già, người bị bệnh thận (creatinine máu > 200 mol/L) hoặc rối loạn chức năng gan khi đó liều thuốc cần được giảm đi. Sulfonylurea không được sử dụng để điều trị tăng glucose máu ở người bệnh đái tháo đường typ 1, nhiễm toan ceton, người bệnh có thai, và một số tình trạng đặc biệt khác như nhiễm trùng, phẫu thuật…
Các loại sulfonylurea trên thị trường:
– Thế hệ 1: thuốc thuộc nhóm này gồm Tolbutamide, Chlorpropamide, viên 500mg – nhóm này hiện ít được sử dụng do nhiều tác dụng phụ.
– Thế hệ 2: các thuốc thuộc nhóm này gồm Glibenclamid (Hemidaonil 2,5mg; Daonil 5mg; Glibenhexal 3,5mg;…); Gliclazid (Diamicron 80mg; Diamicron MR30 mg; Diamicron MR60 mg, Predian 80mg;…); Glipizid (minidiab), Glyburid;…
Thuốc thuộc thế hệ này có tác dụng hạ glucose máu tốt, ít tác dụng phụ hơn thuốc thế hệ 1. Nhóm Gliclazid các tác dụng đặc hiệu lên kênh KATP làm phục hồi đỉnh tiết sớm của insulin gần giống sự bài tiết insulin sinh lý nên ít gây hạ glucose máu hơn các thuốc sulfonylurea khác. Gliclazid (Diamicron 30mg MR) dùng một lần trong ngày.
Nhóm Glimepirid (Amaryl viên 1mg, 2mg và 4mg). Tác dụng hạ glucose máu tốt, ngoài tác dụng kích thích tế bào beta của tuỵ bài tiết insulin gần giống với bài tiết insulin sinh lý (tác dụng đặc hiệu lên kênh KATP làm phục hồi đỉnh tiết sớm của insulin), còn có tác dụng làm tăng nhạy cảm của mô ngoại vi với insulin. Thuốc có ít tác dụng phụ và ít gây tăng cân ở người bệnh đái tháo đường thừa cân. Chỉ uống một lần trong ngày nên thuận tiện cho người sử dụng.
Liều thông thường của nhóm Sulfonylurea:
– Glipizid từ 2,5 mg đến 20,0mg/ ngày.
– Gliclazid từ 40 – 320mg/ngày.
– Gliclazid MR từ 30 – 120 mg/ngày.
– Glimepirid từ 1,0 – 6,0 mg/ngày- cá biệt tới 8,0 mg/ngày.
– Glibenclamid từ 1,25 – 15,0 mg/ ngày.
Các thuốc sulfonylurea được sử dụng rộng rãi dưới dạng đơn trị liệu hoặc phối hợp với các thuốc nhóm Biguanid, Glitazon, thuốc ức chế men Alpha-glucosidase, ức chế men DPP-4, insulin.
3. Thuốc ức chế enzym Alpha- glucosidase
Enzym Alpha-glucosidase có tác dụng phá vỡ đường đôi (disaccharide) thành đường đơn (monosaccharide). Thuốc ức chế Alpha-glucosidase, vì thế có tác dụng làm chậm hấp thu monosaccharide, do vậy hạ thấp lượng glucose máu sau bữa ăn. Những thuốc nhóm này gồm:
– Acarbose: Glucobay 50mg và Glucobay 100mg. Tác dụng không mong muốn: đầy bụng, ỉa chảy… Liều thuốc có thể tăng từ 25mg đến 50mg
hoặc 100mg/mỗi bữa ăn.
– Nhóm Voglibose: thuốc này hiện không có tại Việt Nam
Chú ý khi sử dụng thuốc:
– Thuốc cần sử dụng phối hợp với một loại hạ glucose máu khác.
– Thuốc uống ngay trong khi ăn, tốt nhất là ngay sau miếng cơm đầu tiên. Trong bữa ăn phải có carbohydrat để thuốc tác dụng.
4. Metiglinide/Repaglinide – thuốc kích thích bài tiết insulin sau ăn (khi có tăng glucose trong máu)
Về lý thuyết nhóm này không thuộc nhóm sulfonylurea; nhưng nó có khả năng kích thích tế bào beta tuyến tuỵ tiết insulin- nhờ có chứa nhóm benzamido.
Về cách sử dụng có thể dùng như một đơn trị liệu hoặc kết hợp với Metformin, với insulin. Người ta cũng đã có những số liệu chứng minh việc kết hợp Repaglinid với NPH trước khi đi ngủ đạt kết quả tốt trong điều trị hạ glucose máu ở người đái tháo đường typ 2.
Liều dùng: Hiện có hai thuốc trong nhóm này:
– Repaglinid liều từ 0,5 đến 4 mg/bữa ăn. Liều tối đa 16 mg/ngày.
– Nateglinid liều từ 60 đến 180 mg/bữa ăn. Liều tối đa 540,0 mg/ngày.
5. Thiazolidinedion (Glitazone)
Thuốc làm tăng nhạy cảm của cơ và tổ chức mỡ với insulin bằng cách hoạt hoá PPAR γ (peroxisome proliferator-activated receptor γ) vì vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu. Thuốc làm tăng nhạy cảm của insulin ở cơ vân, mô mỡ đồng thời ngăn cản quá trình sản xuất glucose từ gan
Thuốc hiện có: Pioglitazon, có thể dùng đơn độc hoặc kết hợp với các thuốc uống khác hoặc insulin. Tác dụng phụ bao gồm tăng cân, giữ nước và mất xương, tăng nguy cơ suy tim. Nên lưu ý kiểm tra chức năng gan. Trước kia có khuyến cáo khi dùng troglitazon cần xét nghiệm chức năng gan 2 tháng một lần, hiện nay thuốc này đã bị cấm lưu hành.
Liều dùng:
– Pioglitazon liều từ 15 đến 45 mg/ngày.
Chống chỉ định của nhóm thuốc này: người có triệu chứng hoặc dấu hiệu suy tim, tổn thương gan. Nhiều chuyên gia, nhiều quốc gia cũng khuyến cáo không nên phối hợp nhóm thuốc glitazon với insulin.
Hiện nay tại một số nước trên thế giới không khuyến cáo sử dụng nhóm glitazone do tăng nguy cơ biến cố tim mạch (rosiglitazon), hoặc ung thư nhất là ung thư bang quang (pioglitazon).
6. Gliptin
Gliptin là nhóm thuốc ức chế enzym DPP-4 (Dipeptidylpeptidase-4) để làm tăng nồng độ GLP1 nội sinh, GLP1 có tác dụng kích thích bài tiết insulin, và ức chế sự tiết glucagon khi có tăng glucose máu sau khi ăn.
Các thuốc ức chế enzym DPP-4 hiện đã có tại Việt Nam như sau:
– Sitagliptin liều 50-100 mg/ngày
– Vildagliptin liều 2×50 mg/ngày.
– Saxagliptin–liều 2,5 – 5 mg/ ngày
– Linagliptin- liều 5 mg/ngày
Chế độ ăn cho người tiểu đường tuýp 2
Thực phẩm giàu đạm
| NÊN ĂN | KHÔNG NÊN ĂN |
| Cá béo (như cá hồi, cá trích…)Cá ngừ ngâm đóng hộp
Gà tây, gà ta không da Các loại đậu và cây họ đậu Sữa chua tách béo không đường Hạt tươi không muối như hạnh nhân, óc chó (ăn theo chế độ) Trứng Đậu phụ |
Các món thịt ăn nhẹ như thịt nguội, xúc xích Ý, giăm bông, bò nướng và gà tâyHotdog
Xúc xích và lạp xưởng Thịt bò khô Thịt heo xông khói Các loại hạt tẩm gia vị như nướng mật ong hoặc ướp cay Thức uống tăng cơ ngọt |
Ngũ cốc
| NÊN ĂN (ăn theo khẩu phần) | KHÔNG NÊN ĂN |
| Gạo hữu cơ, gạo lứtHạt diêm mạch
Bánh mì ngũ cốc nguyên hạt Mỳ, nuôi từ ngũ cốc nguyên hạt Ngũ cốc nguyên hạt ăn liền như yến mạch |
Bánh mìBánh ngọt
Ngũ cốc ăn sáng có đường Gạo Các loại mỳ, nui |
Các sản phẩm từ sữa
| NÊN ĂN | KHÔNG NÊN ĂN |
| Sữa tách béoSữa chua tách béo không đường
Phô mai tách béo dạng đặc ít muối Phô mai tách béo 1 phần (theo chế độ) Sữa chua uống lên men tách béo, không đường |
Sữa nguyên béo hoặc tách béo 2%, kể cả sô cô la trắng và các loại bánh kẹo từ sữaPhô mai nguyên béo
Sữa chua uống nguyên béo có đường Yaourt nguyên béo |
Các loại rau nào
| Các loại rau củ không tinh bột NÊN ĂN | Các loại rau củ nên ĂN CÓ CHỪNG MỰC |
| Rau lá xanh như: cải bó xôi, cải xoăn, các loại rau họ cải và bông cải xanh, bông cải trắngDưa leo (dưa chuột)
Măng tây Củ sắn (Củ đậu) Cải Brussel (bắp cải tí hon) Hành, tiêu Tâm hoa atisô |
(hãy tính thêm các loại rau có tinh bột vào tổng lượng bạn cần trong khẩu phần)Bắp (ngô)
Khoai tây Khoai lang Khoai mỡ Đậu Hà Lan Củ cải đường |
Trái cây
| NÊN ĂN | KHÔNG NÊN ĂN |
| Các loại dâu: việt quất, dâu tây, mâm xôiTáo, đào, mơ, lê để nguyên vỏ
Cherry, cam, kiwi, chuối, nho Các loại dưa |
Trái cây sấyTrái cây đóng gói
Nước trái cây lọc Trái cây tẩm đường |
Thực phẩm chứa chất béo
| NÊN ĂN | KHÔNG NÊN ĂN |
| Quả bơ, bơ hạt, ô liuCác loại quả hạch như: hạnh nhân, hồ đào, óc chó, hồ trăn (hạt dẻ cười)
Đậu nành lông Nhật Bản, đậu phụ Dầu thực vật như: dầu nành, dầu bắp, dầu ô liu và dầu hướng dương Các loại hạt như: hạt chia, hạt lanh Các loại cá như: cá ngừ, cá hồi |
Thức ăn nhanhCác loại thịt: bò, bê, cừu, heo
Sản phẩm từ sữa nguyên béo Dầu dừa, dầu cọ Bánh snack Món ngọt: donut, bánh kem, bánh quy và muffin |
Tham khảo sách: 50 cách khống chế bệnh tiểu đường type 2
Tag: biểu hiểm con chữa khỏi dành trẻ em hậu tượng hỏi đáp tiêm kế hoạch sóc kiêng sống lâu nhiêu phẩy mức mang phác đồ phòng ngừa gốc tìm hiểu tư đông y alobacsi hết gi chấm chẩn đoán an hội hàng
Công Ty Hóa Chất Hanimex HANIMEX Chemical