Văn hóa vật chất gồm những gì
Là năng lực sáng tạo của con người. Được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất.
khác với văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị. Được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người.
Những giá trị văn hóa vật chất, văn hóa vật chất bao gồm những gì
Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần, do vậy, con người cũng có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Từ đó, văn hoá như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.
Văn hoá vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của con người tạo ra: đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hàng ngày, công cụ sản xuất, phương tiện đi lại…
Văn hoá tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng – tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương…
Sự phân chia này mới nhìn tưởng như khá rõ ràng và hiển nhiên, song nhìn kĩ sẽ thấy xuất hiện hàng loạt trường hợp phức tạp. Ví dụ: các dạng hoạt động, các quan hệ sản xuất… xếp vào dạng văn hoá vật chất hay tinh thần? Không ít các vật dụng sinh hoạt hàng ngày (= vật chất) lại có giá trị nghệ thuật rất cao (= tinh thần), ví dụ như cái muôi múc canh thời Đông Sơn có gắn tượng người ngồi thổi khèn, chiếc ngai vàng được chạm trổ công phu; ngược lại, các sản phẩm tinh thần thường tồn tại dưới dạng đã được vật chất hoá, ví dụ như pho tượng, quyển sách.
Trong thực tế, văn hoá vật chất và tinh thần luôn gắn bó mật thiết với nhau và có thể chuyển hoá cho nhau: không phải ngẫu nhiên mà K.Marx nói rằng “Tư tưởng sẽ trở thành những lực lượng vật chất khi nó được quần chúng hiểu rõ”. Bởi vậy mà tuỳ theo những mục đích khác nhau, việc phân biệt văn hóa vật chất và văn hoá tinh thần sẽ phải dựa vào những tiêu chí khác nhau.
Với mục đích thực tế là phân loại các đối tượng văn hoá thì việc phân biệt văn hoá vật chất và tinh thần chỉ có thể thực hiện một cách tương đối căn cứ vào “mức độ” vật chất / tinh thần của đối tượng văn hoá. Trong trường hợp này, có thể dùng khái niệm “mục đích sử dụng” làm tiêu chí bổ trợ: những sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ cho các nhu cầu vật chất thì, dù có giá trị nghệ thuật cao đến mấy (như cái muôi thời Đông Sơn có gắn tượng người ngồi thổi khèn dùng để múc canh, chiếc ngai vàng được chạm trổ công phu dùng cho vua ngồi thiết triều) vẫn thuộc dạng văn hoá vật chất; còn những sản phẩm làm ra trước hết để phục vụ cho các nhu cầu tinh thần thì, dù được vật chất hoá (như pho tượng, quyển sách mua về để trưng, để đọc), chúng vẫn thuộc dạng văn hoá tinh thần.
Còn với mục đích phân loại các giá trị, làm rõ bản chất của chúng, đưa ra một bức tranh khoa học về văn hoá vật chất và tinh thần thì có thể dựa hẳn vào chất liệu để phân biệt: theo đó, văn hoá vật chất liên quan đến sự biến đổi mang tính sáng tạo thiên nhiên quanh mình thành những sản phẩm có dạng chất liệu vật thể; còn văn hoá tinh thần thì chỉ liên quan đến sự biến đổi thế giới bên trong, thế giới tâm hồn của con người, sản phẩm của nó là tư tưởng thuần tuý, “phi vật thể”. Với cách này, cùng một đối tượng có thể vừa có phần giá trị vật chất, vừa có phần giá trị tinh thần của nó.
Riêng về các hoạt động thì, thông thường, người ta xếp hoạt động sản xuất vật chất vào dạng văn hoá vật chất (vì loại hoạt động này phải sử dụng nhiều năng lực cơ bắp, mồ hôi…), còn hoạt động sản xuất tinh thần được xếp vào văn hóa tinh thần (vì loại hoạt động này chủ yếu sử dụng năng lực trí tuệ).
Yếu tố vật chất của văn hóa
Trong 1 mặt nào đó, văn hóa là:
Con người < ̶ > tự nhiên ̶ > của cải vật chất ̶ > sinh tồn
Vật chất là những gì con người có thể nhận biết: có sẵn trong tự nhiên hoặc do con người tạo ra
Khi nghiên cứu văn hóa vật chất, cần:
-Cách làm ra sản vật (khía cạnh kỹ thuật)
-Ai làm, tại sao làm (khía cạnh kinh tế)
Khi đánh giá yếu tố của nền văn hóa, cần:
-Cơ sở hạ tầng kinh tế
-Cơ sở hạ tầng xã hội
-Cơ sở hạ tầng tài chính.
Tính chất của nền văn hóa việt nam hiện nay
Văn hóa vật chất của người dao
Nhà nền đất: thường thấy ở nhóm Dao Tiền, Dao đỏ, Dao thanh phán. Nhà được làm ở những nơi tương đối bằng ở trên núi, sườn đồi thoải.
Nhà nửa sàn nửa đất: chủ yếu ở nhóm Dao đỏ, Dao họ, Dao quần chẹt, Dao thanh y. Đây là những nhóm Dao trước đây sống bằng nương rẫy du canh và cư trú trên đất dốc.
Nhà sàn: phổ biến ở nhóm Dao làm nông nghiệp lúa nước: Dao quần trắng, Dao tuyển, Dao thanh y. Nhà được cất trên gò đất thấp dưới chân núi, trong các thung lũng.
Người Dao thường ăn ba bữa chính trong ngày, bữa sáng, bữa trưa và bữa tối; trong đó quan trọng nhất là bữa sáng, bởi bữa sáng có ăn no và ăn nhiều chất thì mới có sức khỏe để đi làm. Ngoài cơm là món chủ yếu thì người Dao còn có món cháo gạo, cháo kê, bánh kê, bánh ngô, bánh sắn… Các món hay được chế biến để ăn với cơm gồm có món canh, món luộc, món xào, món hầm… tất cả các món đều được chế biến từ các loại thực thẩm tự nuôi, tự trồng.
Văn hóa vật chất vùng trung bộ
Quê hương của các làn điệu dân như: hát Phường Vải, hát Ghẹo, hò Khoan, hò Mái Nhì, ca Huế,..
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Lễ hội truyền thống
Tháp bà Ponagar
(Khánh Hòa)
Nghề thủ công truyền thống
Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam)
Nghệ thuật trình diễn dân gian
– Văn hóa Chăm Pa là nền văn hóa có gốc chung với nền văn hóa Ấn Độ, đặc biệt là nền văn hóa Pallava của Nam Ấn
– Cội nguồn của văn hóa Chăm Pa là văn hóa Sa Huỳnh của những bộ tộc, cư dân ven biển
Đây là địa bàn sinh sống của hơn 34 dân tộc anh em, thuộc các nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, Hoa, Mã lai-Đa đảo như Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Raglai và Chu Ru
Văn hóa vật chất tây nguyên
Văn hóa cồng chiêng
Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên bao trùm 5 tỉnh Tây Nguyên, tập hợp của nhiều dân tộc thiểu số. Cồng chiêng Tây Nguyên là nơi chứa đựng những giá trị kiệt tác của nhân loại. Không chỉ có sức hấp dẫn đặc biệt ở sự đa dạng độc đáo kỹ thuật diễn tấu mà cồng chiêng còn là biểu tượng cho sự tổng hoà các giá trị văn hóa đa dạng như: giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; giá trị biểu thị đặc trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người; giá trị phản ánh đa chiều; giá trị nghệ thuật; giá trị sử dụng đa dạng; giá trị vật chất; giá trị biểu thị sự giàu sang và quyền uy; giá thị tinh thần; giá trị cố kết cộng đồng và giá trị lịch sử.
Lễ hội truyền thống
Bao trùm lên tất cả trong đời sống tinh thần của người Tây Nguyên có lẽ là lễ hội truyền thống, biểu thị những quan niệm của họ về con người, về vũ trụ ít nhiều còn thô sơ, chất phác nhưng họ rất tin thờ, như: Lễ cúng bến nước – hay còn gọi là uống nước giọt vào dịp cuối năm cũ hoặc đầu năm mới; lễ ăn cơm mới – đóng cửa kho lúa vào dịp thu hoạch mùa màng; lễ cưới cho người trẻ, lễ mừng thọ người già, lễ bỏ mả – phơi thi cho người đã khuất, lễ cúng tạ ơn cha mẹ… đều trở thành những hội vui, cuốn hút sự tham gia của toàn thể cộng đồng, thậm chí các dòng tộc khác hoặc buôn lân cận. Mỗi hội lễ là một tổng thể nguyên hợp, tiêu biểu cho đời sống văn hóa cổ truyền các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, cho nền văn minh nương rẫy.
Sử thi Tây Nguyên
Trong kho tàng văn hoá phong phú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, bên cạnh giá trị của âm nhạc cồng chiêng, còn phải kể đến giá trị của sử thi. Đó là những áng anh hùng ca. Nhưng có lẽ gọi một cách khoa học chính xác, đó là “sử thi”. Sử thi hình thành trên nền tảng văn hoá, văn nghệ dân gian thời sơ sử và thời cổ đại, trước hết trên nền tảng thần thoại. Thần thoại phản ánh nhận thức của người xưa về thế giới, về nhân loại, về cuộc sống… Thần thoại thường gắn liền với phong tục, tập quán, nghi lễ và ca múa nhạc nguyên thủy.
Văn hóa vật chất nam bộ
Cách thức ăn, mặc, ở, đi lại của người Việt ở Nam Bộ cũng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện tự nhiên. Trước hết, ẩm thực của người Việt Nam Bộ cũng theo truyền thống bảo đảm cân bằng âm dương và theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc của người Việt nói chung. Tuy nhiên, do điều kiện địa lý đặc thù và giao lưu tiếp biến văn hoá, cơ cấu bữa ăn thông thường của người Việt nơi đây đã được điều chỉnh từ cơm – rau – cá – thịt thành cơm – canh – rau – tôm cá. Để cân bằng với khí hậu nóng nực, người Việt nơi đây rất chuộng ăn canh, và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên các món canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú. Do nguồn thuỷ sản dồi dào, thành phần thuỷ sản như cá, tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, lươn… giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu bữa ăn. Cũng do môi trường lắm tôm cá, nên các loại mắm nơi đây phong phú hơn hẳn các vùng miền khác: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm cá linh, mắm tôm chua, mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm… Cách chế biến cũng rất đa dạng và đặc sắc: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm… Từ các nguồn nguyên liệu thuỷ sản này kết hợp với các loại rau trái phong phú, người Nam Bộ đã sử dụng các kỹ thuật nấu nướng khác nhau như nướng, hấp, chưng, luộc, kho, xào, khô, mắm… để chế biến ra các loại món ăn khác nhau với những hương vị độc đáo. Về trang phục, do sống trong môi trường sông nước, nông dân người Việt ở Nam Bộ, cả nam và nữ, rất thích chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn. Chiếc áo bà ba gọn nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu giăng lưới, và có túi để có thể đựng một vài vật dụng cần thiết. Chiếc khăn rằn được dùng để che đầu, lau mồ hôi, và có thể dùng quấn ngang người để thay quần. Nhà ở của người Việt Nam Bộ có ba loại chính: nhà đất cất dọc theo ven lộ, nhà sàn cất dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước. Nhà nổi trên sông nước là nơi cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán sỉ và bán lẻ trên sông. Việc đi lại, vận chuyển càng phụ thuộc vào địa hình đặc trưng của không gian Nam Bộ. Ở trên đất liền thì các cư dân Nam Bộ dùng xe bò, xe ngựa, xe đạp, xe thồ, xe tải… Ở vùng sông nước thì dùng xuồng, ghe, tắc ráng, vỏ lãi, tàu, bè, bắc (phà), cộ… Ở miền Tây sông nước, xuồng ghe có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là phương tiện vận chuyển tiện dụng cho tất cả mọi người, vừa là phương tiện mưu sinh và phương tiện cư trú của một số lớn cư dân làm nghề đò ngang, đò dọc, buôn bán và nuôi cá trên sông. Hình ảnh dòng sông, con đò vì vậy đã phổ biến đến mức trở thành một hình tượng văn học, một biểu tượng của không gian Nam Bộ.
Tag: bách thư xây dựng bệnh viện lào trần thái á mường tày điểm doanh tổ chức dục vệ bài mô hoàng thụ hải phòng hưng định nghĩa cty ty thí nghiệm cục sau phát triển nâng làng ứng xử trào 9 nêu tnhh & bị diện tphcm giải pháp thương vợ đoạn thơ quen lạ hãy vấn trưởng hồ tiên tiến trả lời hcm ý tu dưỡng nết tầm mạng nào? đây? bách thư lào bách khoa thư văn hóa vật chất của việt nam
Công Ty Hóa Chất Hanimex HANIMEX Chemical