Văn hóa là gì – Nét đặc trưng của văn hóa Việt Nam

Văn hóa là gì

Theo UNESCO: ‘Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”

Bản sắc văn hóa là gì?

Bản sắc văn hóa là điều giúp người ngoài dễ dàng nhận ra và phân biệt giữa 1 tổ chức này với 1 tổ chức khác. Nét riêng của mỗi tổ chức chính là bản sắc văn hóa. chính nhờ điểm này mà khi chỉ cần nhắc đến hoặc nhìn thấy bản sắc đó là người ta có thể biết rằng đó là tổ chức nào

Cơ sở văn hóa việt nam filetype:ppt

https://khoakhxhnv.ntu.edu.vn/uploads/12/images/bomonkhxhnv/files/B%C3%A0i%20gi%E1%BA%A3ng%20CS%20v%C4%83n%20h%C3%B3a%20VN%20-%20ThS_%20NGuy%E1%BB%85n%20Th%E1%BB%8B%20B%C3%A9.ppt

Nét đặc trưng của văn hóa việt nam

5 đặc trưng văn hóa Việt Nam, thể hiện rõ ở 24 phẩm chất tốt cơ bản sau:

– Một là, tính cộng đồng làng xã. Tính cộng đồng làng xã thể hiện rõ ở 6 phẩm chất tốt sau: (1) Tính đoàn kết, giúp đỡ; (2) Tính tập thể thương người; (3) Tính dân chủ, làng xã; (4) Tính trọng thể diện; (5) Tình yêu quê hương, làng xóm; (6) Lòng biết ơn. Bên cạnh những phẩm chất tốt cũng xuất hiện những hậu quả “sạn văn hóa”, những tật xấu như: Thói dựa dẫm; Thói cào bằng, chụp mũ; Bệnh sĩ diện, háo danh; Bệnh thành tích; Bệnh phong trào; Bệnh hình thức; Bệnh chặt chém (chém gió) v.v..

– Hai là, tính trọng âm. Bảy phẩm chất tốt được biểu hiện trong tính trọng âm là: (1) Tính ưa ổn định; (2) Tính hiền hòa, bao dung; (3) Tính trọng tình, đa cảm; (4) Tính trọng nữ; (5) Thiên hướng thơ ca; (6) Sức chịu đựng, nhẫn nhịn; (7) Lòng hiếu khách. Bên cạnh bảy phẩm chất tốt, tính trọng âm cũng là mảnh đất hình thành những bệnh xấu như: Bệnh thụ động, khép kín; Bệnh lề mề, chậm chạp; Bệnh tủn mủn, thiếu tầm nhìn; Bệnh sùng ngoại v.v..

– Ba là, tính ưa hài hòa. Có bốn phẩm chất của tính ưa hài hòa là: (1) Tính mực thước; (2) Tính ung dung; (3) Tính vui vẻ, lạc quan; (4) Tính thực tế. Cũng có những hậu quả tật xấu như: Bệnh đại khái, xuề xòa; Bệnh dĩ hòa vi quý; Bệnh trung bình chủ nghĩa; Bệnh nước đôi, thiếu quyết đoán.

– Bốn là, tính kết hợp. Những biểu hiện tốt của tính kết hợp được thể hiện ở hai khả năng: (1) Khả năng bao quát tốt; (2)  Khả năng quan hệ tốt. Mặt trái của tính kết hợp này cũng tạo ra những hậu quả xấu như: Thói hời hợt, thiếu sâu sắc; Bệnh sống bằng quan hệ.

– Năm là, tính linh hoạt. Biểu hiện của tính linh hoạt được thể hiện ở 2 phẩm chất tốt: (1) Khả năng thích nghi cao; (2) Tính sáng tạo. Tính linh hoạt nhiều khi cũng dẫn đến hậu quả xấu như: Thói tùy tiện, cẩu thả; Bệnh thiếu ý thức pháp luật; Thói khôn vặt.

Tổng hợp 5 đặc trưng cơ bản của văn hóa Việt Nam ta thấy phẩm chất, giá trị cốt lõi tốt nhất là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, lòng nhân ái, thương người; tính cộng đồng làng xã, tính tinh tế.

Nghị luận về trang phục và văn hóa

Ngày nay, xã hội ngày càng giàu có thịnh vượng, đời sống con người càng được cải thiện, người ta không chỉ no đủ vật chất mà còn chú trọng nhiều đến đời sống tinh thần, đặc biệt là trang phục nhằm thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao. Dân gian cũng đã có câu “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân” là lẽ đó, Nhu cầu thời trang có mối quan hệ khá mật thiết với văn hoá, phản ánh một phần đời sống, văn minh của con người. Tuy nhiên, cần có cái nhìn đúng đắn và rõ ràng hơn về trang phục và văn hoá để lựa chọn hợp lý, tinh tế hơn cho bản thân mình.

Thời trang là những thứ chúng ta diện lên mình hàng ngày có nghĩa vụ bảo vệ cơ thể và nâng cao thẩm mỹ. Trang phục bao gồm áo, quần, váy vóc, mũ nón,… Trang phục được thiết kế với nhiều kiểu dáng, mẫu mã phù hợp với thị hiếu và thẩm mỹ của mọi đối tượng người sử dụng. Văn hoá là những hành vi, cách ứng xử, thái độ, tư tưởng, cách nhìn nhận, quan điểm,… trong đời sống. Văn hoá được sự đồng nhất của cộng đồng, mang tính cộng đồng và thường khá bền vững. Đi ngược lại với văn hoá là thiếu văn hoá, không phù hợp với đời sống của cộng đồng. Vậy giữa trang phục và văn hóa có mối liên hệ như thế nào?

Thông qua trang phục, ta cũng có thể nhận diện được đó là văn hoá đại diện cho quốc gia hay dân tộc nào đó. Ví dụ như Việt Nam có quốc phục là áo dài, Nhật Bản có Kimono, Hàn quốc có Hanbok,…. Mỗi một quốc phục đều có ý nghĩa riêng. Với mỗi người, cần phải hiểu trang phục và văn hoá đi liền với nhau và có sự gắn bó nhất định. Trước đây, trang phục phổ biến ở nông thông thường là những chiếc áo bà ba, áo tứ thân, áo mớ ba mớ bảy gắn với đời sống. Trai áo dài khăn đống, gái áo yếm quần ống loe. Giai đoạn hiện nay khi mà mọi thứ đang đổi mới, trang phục được lựa chọn đa dạng hơn, phù hợp với từng mục đích. Ví như trang phục dự tiệc, trang phục công sở, trang phục áo tắm, … tất cả đều được thiết kế vô cùng bắt mắt, đa dạng.

Khi giao tiếp với người khác, vẻ bề ngoài rất quan trọng bởi đó là ấn tượng đầu tiên đối với người đối diện. Thông qua cách ăn mặc, ta có thể đánh giá được phần nào tính cách của người đó. Bởi vậy, cần biết cách lựa chọn trang phục phù hợp không chỉ theo sở thích mà còn phải gắn với chuẩn mực, nếp sống văn hóa xã hội. Trên thực tế, không phải ai cũng biết sắm cho mình những bộ quần áo phù hợp, tinh tế. Nhiều người vì chạy theo “mốt” mà không quan tâm đến văn hoá, diện lên người những bộ trang phục vô cùng phản cảm, thậm chí là trái với thuần phong mỹ tục của đời sống văn hoá từ xưa tới nay. Đến những nơi linh thiêng, trang trọng thì mang áo quần ngắn cũn cỡn, hở phần trên, lộ phần dưới, bất lịch sự vô cùng. Đi tang ma thì chọn bộ đồ sặc sỡ, lòe loẹt nổi bật. Lên outfit sao cho phù hợp là kĩ năng cần thiết trong xã hội hiện đại. Giáo viên đến trường phải mang áo dài, hoặc áo quần giản dị gọn gàng, tránh phân tán sự chú ý của học sinh. Người lao động chân tay không thể mang váy ra ruộng làm việc. Đi chùa nên chọn những bộ trang phục kín đáo, tế nhị,… Cần tùy hoàn cảnh mà chọn cho mình một phục trang đúng đắn, ý nhị, đẹp mà không phản cảm, không làm lố bản thân.

Trang phục được đánh giá là phù hợp chính là trang phục đẹp, nó không quá phụ thuộc vào giá tiền, sang chảnh mới là thể hiện trình độ văn hóa cao mà nó phải thật sự tạo thoải mái, tự tin cho người mang nó và phù hợp với điều kiện sống, hoàn cảnh giao tiếp. Văn hóa được xác định bằng nhiều tiêu chí và trang phục chỉ là một phần trong số đó, tuy nhiên, một bộ trang phục đẹp không cần quá hở hang, diêm dúa nhưng vẫn thể hiện được nét duyên dáng, thanh lịch và gợi cảm của chủ nhân mang nó, cũng đã giúp người đối diện có cái nhìn thiện cảm hơn đối với ta. Thật đáng buồn, hiện nay, giới trẻ, đặc biệt là một bộ phận các bạn học sinh hâm mộ những thần tượng, idol mới nổi,… đua đòi chạy theo những bộ áo quần đắt tiền, không phù hợp với lứa tuổi, điều đó là không nên.

Chúng ta là những học sinh, đến trường cần mang đồng phục, hoặc lựa chọn trang phục phù hợp với quy định của nhà trường. Mang những trang phục thoải mái để phù hợp cho việc học tập và rèn luyện cũng như tham gia các hoạt động thể thao. Hãy chọn cho mình những bộ áo quần phù hợp với lứa tuổi, tránh hở hang, phản cảm, mất đi nét đẹp văn hoá vốn có. Hãy chọn cho chính mình những trang phục “đẹp” theo đúng nghĩa của nó, xây dựng văn hóa phục trang trong đời sống mỗi ngày.

Không gian văn hóa cồng chiêng tây nguyên

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Chủ nhân của di sản văn hóa quý giá và đặc sắc này là 17 dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Á (Austro-Asian) và Nam đảo (Austronesian) sống trên khu vực cao nguyên trung bộ của Việt Nam.

Các cộng đồng cư dân nơi đây chủ yếu sống bằng canh tác nông nghiệp truyền thống. Họ đã phát triển nhiều loại hình nghề thủ công, sáng tạo ra nhiều phong cách trang trí và các kiểu nhà ở truyền thống độc đáo của mình.

Tín ngưỡng chủ đạo của cư dân nơi đây xuất phát từ tục thờ cúng tổ tiên, shaman giáo và thờ cúng vật linh. Gắn bó mật thiết với cuộc sống hằng ngày của cư dân và chu kỳ các mùa trong năm, những tín ngưỡng này hình thành nên một thế giới thần bí, nơi mà những chiếc cồng chiêng là chiếc cầu nối thông linh giữa con người, thần linh và thế giới siêu nhiên. Chứa đựng bên trong mỗi chiếc chiêng, chiếc cồng là một vị thần. “Cồng chiêng càng già thì thần linh càng mạnh và càng thiêng”*. Hầu như nhà nào cũng có cồng chiêng, thậm chí có gia đình có tới vài bộ. Điều này thể hiện sự giàu có và quyền thế, đồng thời cũng là vật che chắn, bảo vệ cho gia đình.

Bao ngàn đời nay, cồng chiêng gắn với Tây Nguyên như một phần không thể thiếu trong suốt vòng đời mỗi con người và trong hầu như tất cả các sự kiện quan trọng của cộng đồng: từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, lễ cưới xin, lễ tiễn đưa người chết, lễ đâm trâu trong ngày bỏ mả, v.v. cho đến lễ cúng máng nước, mừng lúa mới, lễ đóng cửa kho, lễ mừng nhà rông mới, v.v.

Có giả thuyết cho rằng văn hóa cồng chiêng bắt nguồn từ văn minh Đông Sơn, là nền văn hóa đồng thau xuất hiện tại Đông Nam Á. Cồng chiêng của Việt Nam rất đặc trưng so với cồng chiêng ở những khu vực khác do tính cộng đồng rất cao. Điều này thể hiện ở việc mỗi nhạc công đánh một chiếc. Từng thành viên trong dàn nhạc nhớ rõ từng tiết tấu của từng bài chiêng trong mỗi nghi lễ và kết hợp hài hòa với các nhạc công khác cùng chơi. Tùy theo từng nhóm dân tộc, cồng chiêng được đánh bằng dùi hoặc bằng tay; mỗi dàn cồng chiêng có khoảng từ 2 đến 13 chiếc có đường kính dao động từ 25 đến 120 cm.

Xưa nay, người Tây Nguyên không tự chế tác mà mua cồng chiêng của người Kinh từ các vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, dân tộc Lào hoặc Campuchia, rồi về nắn chỉnh lại để có được âm thanh mong muốn. Mỗi một làng bản đều có một người chuyên lên chiêng (hay còn gọi là người chỉnh chiêng).

Các quá trình chuyển biến về kinh tế, xã hội và tín ngưỡng đã và đang làm thay đổi mạnh mẽ cuộc sống của các cộng đồng nơi đây. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đang đứng trước nguy cơ mai một rất lớn. Việc gìn giữ và chuyển giao các tri thức và bí quyết về cồng chiêng lại cho thế hệ tương lai gặp rất nhiều khó khăn. Phần vì nhiều nghệ nhân nắm giữ bí quyết qua đời, nhiều người không còn biết hết các nghi lễ truyền thống, thế hệ trẻ ít hoặc không quan tâm đến cồng chiêng do sức hút mạnh mẽ của cuộc sống hiện đại và văn hóa du nhập. Ở nhiều nơi, cồng chiêng bị tước khỏi ý nghĩa nguyên bản và không gian văn hóa linh thiêng. Cồng chiêng trở thành những vật buôn bán trao đổi, tái chế phục vụ cho các mục đích khác.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã trở thành một Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của Nhân loại, bên cạnh niềm tự hào là một trách nhiệm hết sức nặng nề và to lớn. Cồng chiêng vốn là tài sản vô giá, được các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên sáng tạo và không ngừng phát huy, trao truyền lại bao đời nay. Chính vì vậy, đối mặt với những thử thách đó, Bộ Văn hóa – Thông tin đang chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng với cộng đồng có những hành động cụ thể nhằm khôi phục các giá trị truyền thống, trả lại cho cồng chiêng linh hồn và cuộc sống đích thực của nó.

* GS.TSKH Tô Ngọc Thanh

Việt nam có bao nhiêu di sản văn hóa thế giới ?

  • Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long-Hà Nội
  • Đô thị cổ Hội An
  • Quần thể danh thắng Tràng An
  • Quần thể di tích Cố đô Huế
  • Thành nhà Hồ
  • Thánh địa Mỹ Sơn
  • Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng
  • Vịnh Hạ Long

Cơ sở văn hóa việt nam trần ngọc thêm

Giáo trình Cơ sở Văn hóa Việt Nam có cấu trúc gồm các nội dung: Văn hóa học và văn hóa VN, văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức đời sống tập thể, văn hóa tổ chức đời sống cá nhân, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội.

https://canhquan.net/thu-vien/sach/eb0108?p=11

Bảo tàng văn hóa các dân tộc việt nam

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các nhóm ngôn ngữ tộc người kết hợp với văn hoá vùng, giới thiệu bản sắc văn hoá 54 tộc người gắn với cảnh quan môi sinh từng vùng cư trú, gồm 5 phòng trưng bày.

Phòng số 1: Trưng bày và giới thiệu về văn hoá các tộc người nhóm ngôn ngữ Việt – Mường (Kinh, Mường, Thổ, Chứt). Đồng bào sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước và đánh cá. Trong đời sống tâm linh có tục thờ cúng ông bà tổ tiên và các nghề thủ công truyền thống phát triển ở trình độ cao.

Phòng số 2: Trưng bày và giới thiệu các tộc người nhóm ngôn ngữ Tày – Thái (Tày, Thái, Nùng,Giáy, Lào, Lự, Sán Chay, Bố Y). Đồng bào sống chủ yếu ơ nhà sàn, trồng lúa trên các thung lũng,ven sông suối, với hệ thống dẫn nước bằng mương, phai, lái, lín, cọn nước. Các nghề thủ công rèn, dệt vải khá phát triển với các sản phẩm đẹp và tinh tế. Họ có đời sống tinh thần phong phú với nhiều điệu xoè và bài hát then độc đáo.

Phòng số 3: Trưng bày và giới thiệu văn hoá các tộc người thuộc 3 nhóm ngôn ngữ: H’mông – Dao (H’mông, Dao, Pà Thẻn); Ka Đai (La Chí, La Ha, Cờ Lao, Pu Péo) và Tạng Miến (Lô Lô, Phù Lá, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La). Đồng bào giỏi canh tác trên nương rẫy và ruộng bậc thang. Chợ phiên là nơi thể hiện rõ bản sắc văn hoá vùng cao, văn hoá ẩm thực, văn hoá mặc, nghệ thuật thêu thùa,in hoa trên vải , biểu diễn âm nhạc, múa khèn…

Phòng số 4: Trưng bày giới thiệu văn hoá 21 tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me (Ba Na, Brâu, Bru – Vân Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Gié Triêng, H’rê, Kháng, Khơ Me, Khơ Mú, Mảng, Xinh Mun, Mnông, Ơ Đu, Mạ, Rơ Măm, Tà Ôi, Xơ Đăng, Xtiêng). Đồng bào cư trú rải rác ở khu vực Tây Bắc, Miền Trung – Tây Nguyên và Nam Bộ. Đời sống kinh tế chủ yếu là canh tác nương rẫy theo phương pháp chọc lỗ tra hạt. Kiến trúc nhà rông, nhà dài Tây Nguyên, chùa của dân tộc Khơ Me; nghề thủ công đan lát và lễ hội văn hoá cộng đồng là những nét văn hoá độc đáo của cư dân Môn – Khơ Me.

Phòng số 5: Trưng bày và giới thiệu văn hoá các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo (Chăm, Gia Rai, Ê Đê, Raglai, Chu Ru) và ngôn ngữ Hán (Hoa, Ngái, Sán Dìu). Các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo cư trú tập trung trên các cao nguyên đất đỏ Tây Nguyên và dải đất ven biển Miền Trung; Văn hoá Nam Đảo mang đậm nét mẫu hệ.

Địa chỉ: Số 1 Đường Đội Cấn, Thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên

Điện thoại: 0280.3855781

Fax: 0280.3752940

Thuyết trình về văn hóa ẩm thực việt nam

Việt Nam là một nước khí hậu nóng ẩm và có nền văn hóa lúa nước, vùng nhiệt đới gió mùa. hơn nữa, lãnh thổ Việt Nam được chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung, Nam, cùng với đấy là 54 dân tộc anh em. Chính các đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng của ẩm thực từng vùng – miền. Mỗi miền có một nét, khẩu vị đặc trưng. Điều đó góp một phần làm ẩm thực nước ta phong phú, đa dạng.

Khi chế biến thức ăn người Việt thường sử dụng nước mắm để làm gia vị, lại liên kết với rất nhiều gia vị tự nhiên khác…Nên món ăn rất đậm đà. Mỗi món không giống nhau đều có nước chấm tương ứng khiến cho món ăn có hương vị đặc trưng hơn.

Các món ăn của chúng ta rất đa dạng thực phẩm như thịt, tôm, cua cùng với những loại rau, đậu, gạo… Và sức quyến rũ đến từ cách chế biến món ăn, chủ yếu là luộc, hấp, nấu, nướng hoặc ăn tươi sống để giữ được hương vị tự nhiên. Người Việt thường sử dụng các gia vị như gừng, nghệ, hành, tỏi, sả và các loại rau thơm…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tag: gi viet van site:diendan hocmai niêm hcm trào “toàn hóa” unesco xếp viêt hóa-du hóa- 4 bác tiểu coơ cương nam? hỏi trắc nghiệm sách pdf tết

About admin

Công Ty Hoá Chất Hanimex - Hanimexchem.com Nhà nhập khẩu và phân phối các loại hóa chất công nghiệp , dung môi công nghiệp
Địa chỉ văn phòng : Số 01 - TT29 -Khu đô thị mới Văn Phú - P. Phú La - Hà Đông - Hà Nội
  • Phòng bán hàng: Mobile / Zalo : 0966.694.823
  • Email :thanhdat@hanimexchem.com
    Website : Hanimexchem.com