Phân tích bài thơ việt bắc

Việt Bắc của Tố Hữu là một trong những bài thơ dài nhất trong chương trình lớp 12, và cũng là bài thơ mang nhiều nội dung và ý nghĩa nhất. Hãy cùng phân tích bài thơ Việt Bắc theo từng khổ một để thấy được triết lý sâu xa của tác giả đã gửi gắm vào đây nhé!

1. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 1

– Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
“- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Câu thơ mở đầu đọc lên, ta nghe thấy tâm tình của lời ca dao yêu thương, tình tứ:

“Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”

Sau bao nhiêu năm chung sống ở mảnh đất Việt Bắc, sống trong tình quân dân chan hòa nồng thắm thế mà nay những chiến sĩ đành phải cất bước ra đi. Mảnh đất gắn bó như thế này bây giờ cũng phải chia tay. Cặp xưng hô “mình-ta” thể hiện sự gần gũi thân thiết của cán bộ và người dân. Cái tình cảm ấy giống như những người thân trong gia đình mình vậy.

Tuy nhiên, phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn này một cách kỹ càng ta lại nhận ra tình nghĩa cách mạng dạt dào trong thơ Tố Hữu. Việt Bắc là quê hương, là cội nguồn kháng chiến, là nơi che chở cưu mang cho Đảng và chính phủ trong suốt những năm dài chiến đấu gian khổ. Bốn câu thơ đầu vang lên với hai câu hỏi dồn dập như nỗi niềm trăn trở khôn nguôi của người ở lại. Một câu hỏi về thời gian kháng chiến gian lao mà anh dũng, một câu hỏi về không gian xa xôi mà đầy ắp ân tình.

2. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 2

“- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trái bùi để rụng măng mai để già.”
“Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”

Mười hai dòng lục bát tạo thành sáu câu hỏi như khơi sâu vào những kỷ niệm kháng chiến. Hình ảnh mưa nguồn, suối lũ, mây mù gợi về 1 thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt của Việt Bắc trong những cả nước chung sức, chung lòng đấu tranh. Biết bao ân tình của nhân dân Việt Bắc đã dành cho cán bộ cách mạng, vì thế mà người ở lại đã cất lên những câu hỏi da diết cho người ra đi.

Phân tích bài thơ Việt Bắc 20 câu đầu ta mới thấy Tố Hữu đã sử dụng hai hình ảnh đối xứng, “miếng cơm chấm muối” và “”mối thù nặng vai”” để hình dung niềm căm thù quân cướp nước như có hình, có khối đè trĩu trên vai. Hình ảnh nhân hóa “rừng núi nhớ ai” và hai đại từ phiếm chỉ “ai” khiến câu thơ trở nên tình tứ, thiết tha. Mình về miền xuôi, núi rừng cũng trở nên trống vắng, bâng khuâng. Những sản vật quen thuộc của Việt Bắc như trám bùi, măng mai hòa cùng tâm trạng con người để diễn tả thấm thía nỗi cô đơn, hẫng hụt của người ở lại. Không chỉ nhắc lại quá khứ mà tác giả còn khẳng định lòng thủy chung, son sắt. Nếu Việt Bắc vẫn “một dạ khăng khăng đợi thuyền” thì các cán bộ kháng chiến về xuôi có còn nhớ những kỷ niệm của một thời kháng chiến.

Mình về còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Câu thơ như nhắc nhở người đi hãy nhớ về núi rừng Việt Bắc nơi căn cứ địa kháng chiến cùng với hai sự kiện lịch sử “khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh”. Đây là phong trào lớn mạnh đã tạo nên chiến thắng của Cách mạng tháng Tám và tiền đề cho những thắng lợi kháng Pháp sau này:

Mình đi mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa?”

Chỉ với hai câu thơ nhưng tác giả đã gửi gắm rất nhiều tình cảm. Câu thơ sáu chữ có đến 3 từ mình quyện vào nhau nghe thật tha thiết và chân thành. Từ “mình” thứ nhất và thứ hai được dùng để chỉ người cán bộ về xuôi, còn từ “mình” thứ ba ta có thể hiểu theo nhiều cách. Nếu hiểu theo nghĩa rộng, “mình” là Việt Bắc, đại từ nhân xưng ngôi thứ hai, thì câu thơ mang hàm ý: cán bộ về xuôi, có còn nhớ đến nhân dân Việt Bắc, nhớ đến người ở lại không? Thay “ta” bằng “mình” để chỉ người Việt Bắc là Tố Hữu muốn nhấn mạnh: “ta” và “mình” đã hòa vào nhau. Dù kẻ ở, hay người đi đều cùng một tâm trạng buồn nhớ như nhau.

Ở nghĩa đẹp hơn, “mình” chính là cán bộ về xuôi – đại từ nhân xưng ngôi thứ 1 – khiến cho câu thơ được hiểu theo nghĩa: Cán bộ về xuôi, có còn nhớ chính mình – nhớ những năm tháng chiến đấu gian khổ vì lý tưởng cao đẹp, vì độc lập tự do của dân tộc hay không? Nhà thơ Tố Hữu đã hình dung trước được diễn biến tâm lý của con người sau chiến thắng, mà phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn 2 ra ta mới thấy được triết lý sâu sắc trong câu thơ này.

Đoạn thơ khép lại bằng hình ảnh Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa. Cây đa Tân Trào gợi nhắc sự kiện lịch sử ngày 22/12/1944 khi đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ xuất quân cho đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; mái Hồng Thái gợi nhắc những cuộc họp quan trọng mang tầm chiến lược đi đến sự thắng lợi của Cách mạng.

Hai câu thơ như lời nhắc nhở nhẹ nhàng: Không biết rằng cán bộ về xuôi có còn nhớ rằng chính là cái nôi của Cách mạng, là nguồn nuôi dưỡng Cách mạng hay không? Khơi dậy một quá vãng đầy kỷ niệm, cay đắng, ngọt bùi, đồng thời muốn khẳng định với người ra đi một điều: Nét đẹp cao quý của Việt Bắc chính là ở chỗ nghèo khổ mà chân tình rộng mở, sắt son thủy chung với Cách mạng, người cũng vậy mà thiên nhiên cũng vậy.

3. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ 3

Trước những lời chia tay thương nhớ thiết tha ấy, người chiến sĩ cách mạng cũng như trải lòng mình nói lên những tâm tư tình cảm gắn bó

“- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

Lời thề nguyền vang lên rắn rỏi, cương quyết mà đầy ắp nghĩa tình. Nếu nước trong nguồn không bao giờ vơi cạn thì ân nghĩa của nhân dân Việt Bắc luôn được người đi khắc cốt ghi tâm. Dù ta có trở về nơi phố phường hoa lệ nhưng một mảnh đời ta đã để lại nơi núi rừng Việt Bắc. Vì thế, Việt Bắc chính là một phần tâm hồn, một phần máu thịt của ta.

Nỗi nhớ của người ra đi với một loạt những hình ảnh về thiên nhiên Việt Bắc mơ mộng sau khi phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn 3:

Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy”

Thiên nhiên Việt Bắc vừa đơn sơ, vừa thơ mộng với ánh trăng trên đầu núi, nắng chiều trên nương rẫy. Có thể thấy rằng, nỗi nhớ của người ra đi cứ trải dài mênh mang trong không gian, trải dài triền miên theo thời gian và đi sâu vào tiềm thức của con người. Nỗi nhớ ấy gợi bao yêu thương, chia sẻ:

“Ta đi, ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Sắn bùi, chăn sui là những hình ảnh quen thuộc, bình dị của cuộc sống chiến khu, đi liền về sự sẻ chia, đùm bọc. Dù sau này người đi có thưởng thức những cao lương mĩ vị chốn thành thị nhưng chắc hẳn chẳng thể nào quên củ sắn chia đôi, bát cơm sẻ nửa trong những ngày tháng gian nan, thiếu thốn. Trong những kỉ niệm về Việt Bắc, cán bộ cách mạng đã dành cho người mẹ nơi đây một tình cảm thật đậm sâu, tha thiết:

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng
Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Hình ảnh người mẹ tảo tần, lam lũ, không quản nắng cháy, mưa sa, mẹ vẫn cặm cụi địu con lên rẫy bẻ ngô nuôi cán bộ. Mẹ chắt chiu, gom góp công sức nhỏ bé của mình vào cuộc kháng chiến lớn lao của dân tộc. Bà mẹ Việt Bắc gợi liên tưởng đến bà mẹ Tà Ôi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.

4. Phân tích bài thơ Việt Bắc bức tranh tứ bình

Trong hoài niệm về những năm tháng kháng chiến ở Việt Bắc, tác giả đã dành cho cảnh và người nơi đây một nỗi nhớ rất riêng:

“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”

Đoạn thơ gồm 10 câu chia làm hai phần. Hai câu thơ đầu tiên như một lối nói đưa đẩy, giao duyên trong ca dao. Giọng thơ êm ái, nhẹ nhàng, tiếp nối mạch đối đáp giao duyên giã bạn, nhân vật trữ tình “ta” đã đối thoại với “mình”. Câu hỏi tu từ kết hợp với điệp từ làm cho lời thơ vừa là đối thoại nhưng cũng là một gạch nối để “ta” bày tỏ nỗi lòng. Không đợi cho “mình” trả lời, nhân vật “ta” tiếp tục xác định nỗi nhớ của mình: “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”. Nhớ hoa và người là nhớ tới thiên nhiên tươi đẹp của Việt Bắc, nhớ tới những con người Việt Bắc cần cù đã từng cưu mang gắn bó với kháng chiến.

Bức tranh tứ bình hiện ra sau khi ta phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn này với màu xanh bát ngát của rừng già. Trên không gian lạnh lẽo, bạt ngàn thăm thẳm ấy là những đuốc lửa đốt lên ấm áp của sắc hoa chuối rừng. Cảnh vật Việt Bắc không còn hoang lạnh mà đẹp như một bức tranh. Sắc đỏ của hoa chuối rừng như thắp lên niềm tin yêu và trở thành điểm nhớ lung linh trong lòng người về xuôi. Giữa vẻ đẹp của sắc màu, hoa lá, hiện lên con người lao động làm chủ núi rừng. Con người đứng hiên ngang trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào dao gài thắt lưng tạo nên một sự phản quang lấp lánh. Câu thơ cho thấy sự khỏe khoắn, vững chãi của người dân Việt Bắc.

5. Phân tích bài thơ Việt Bắc khổ cuối

Liền một mạch thơ là hình ảnh Việt Bắc kháng chiến với những bức tranh rộng lớn, hào hùng, sôi động với hình ảnh những đoàn bộ đội dân công nao nức trên các nẻo đường:

Văn mẫu lớp 12: Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu đầy đủ nhất-7
Tình quân dân ấm áp

Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay…
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Ðèn pha bật sáng như ngày mai lên.
Tin vui chiến thắng trăm miền
Hoà Bình, Tây Bắc, Ðiện Biên vui về
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.”

Đó là cảnh hành quân của những người chiến sĩ và nhân dân Việt Bắc. Tất cả đồng lòng như một. “Ánh sao” để chỉ người chiến sĩ còn “mũ nan” chính là những người dân quân Việt Bắc. Cả hai cùng đồng lòng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Những đoàn dân quân với những ngọn đuốc trên tay như soi sáng cả bầu trời Việt Bắc. Ngọn đuốc ấy như một lý tưởng quyết tâm chiến đấu để bảo vệ đất nước đánh đuổi kẻ thù. Khí thế của tất thảy với sức mạnh giống như là “nát đá”. Nghìn đêm nhân dân ta phải sống trong cảnh khó khăn vất vả. Thế rồi hình ảnh “đèn pha” bật sáng như thể hiện một niềm tin vào tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ đã sống trong khốn khổ để bật phá rũ bùn đứng dậy đấu tranh vì một niềm tin vào tự do hạnh phúc. Và sau bao nhiêu khổ cực khó khăn, nhân dân ta đã giành được chiến thắng. Tin vui ấy lan rộng khắp từ Hòa Bình, đến Tây Bắc và Điện Biên…

Khác với những giai điệu tình nghĩa, mượt mà ở đoạn trên, phân tích bài thơ Việt Bắc đoạn này ta thấy được một bức tranh sử thi hoành tráng, ngợi ca sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và nhân dân anh hùng. Thể thơ lục bát được thể hiện linh hoạt, giọng điệu sôi nổi, dào dạt đã tạo nên một khúc ca anh hùng tràn đầy cảm hứng tự hào về cuộc kháng chiến của dân tộc.

Kết thúc đoạn thơ, một lần nữa nhà thơ khẳng định ý nghĩa của Việt Bắc, chiếc nôi của cách mạng trong suốt chặng đường kháng chiến gian lao. Việt Bắc là nơi chở che, cưu mang, là nơi thắm thiết nghĩa tình.
Với thể thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt, giọng điệu tâm tình, sâu lắng, thiết tha, kết cấu đối đáp “mình – ta” ngọt ngào, ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, sau khi phân tích bài thơ Việt Bắc ta đã thấy những năm tháng gian lao và anh hùng của dân tộc qua sự đằm thắm, yêu thương. Xuyên suốt những câu thơ của Tố Hữu là câu hỏi hướng về cội nguồn đạo lí. Việt Bắc xứng đáng là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Nguồn: ccbook.vn

 

 

 

 

 

 

 

Tag: 8 tính 7 tich phẩm dàn

About admin

Công Ty Hoá Chất Hanimex - Hanimexchem.com Nhà nhập khẩu và phân phối các loại hóa chất công nghiệp , dung môi công nghiệp
Địa chỉ văn phòng : Số 01 - TT29 -Khu đô thị mới Văn Phú - P. Phú La - Hà Đông - Hà Nội
  • Phòng bán hàng: Mobile / Zalo : 0966.694.823
  • Email :thanhdat@hanimexchem.com
    Website : Hanimexchem.com