Người ấn độ đã đạt được những thành tựu gì về văn hóa

Người ấn độ đã đạt được những thành tựu gì về văn hóa

– Tư tưởng: Là quê hương của các tôn giáo lớn trên thế giới hiện nay: đạo Hin-đu, đạo Bà-la-môn, đạo Phật.

– Chữ viết: Chữ Phạn xuất hiện sớm – khoảng 1500 năm TCN, là nguồn gốc của chữ viết Hin-đu thông dụng hiện nay ở Ấn Độ.

– Văn học – nghệ thuật: Phát triển phong phú với nhiều thể loại: giáo lí, chính luận, luật pháp, sử thi, kịch thơ.

– Nghệ thuật kiến trúc: chịu ảnh hưởng sâu sắc của các tôn giáo. Nhiều công trình kiến trúc đền thờ, chùa mang đậm phong cách tôn giáo vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay.

Vì sao văn hóa ấn độ có sức mạnh lan tỏa ở khu vực đông nam á

Trước khi người Hồi và người phương Tây biết tới Đông Nam Á thì người Ấn Độ đã biết đến vùng đất này từ khá sớm, khoảng thiên niên kỷ II – I TCN. Nhiều tài liệu lịch sử ghi nhận, trong thời kỳ này đã có người Ấn Độ đến vùng Đông Nam Á, nhưng người ta cũng chưa rõ là họ đến đây từ sớm để làm gì (buôn bán, truyền giáo ?) mà chỉ biết rằng, họ đến nơi này để tìm vàng vì nhiều sách viết rằng, nơi đây có nhiều vàng (nhiều tài liệu gọi là Suvanabhumi – Xứ sở Vàng), nhiều hương liệu quý giá nên đã kích thích họ đến vùng Đông Nam Á này; tuy nhiên vào thời kỳ đó thì dân cư cũng còn thưa thớt (vài chục đến vài trăm nghìn người), phương tiện di chuyển còn thiếu thốn nên việc sang khu vực Đông Nam Á có phần bị hạn chế. Nhưng về sau, do nhu cầu phát triển kinh tế, cộng với dân cư tăng nhanh và phương tiện di chuyển trên biển được cải tiến nhiều, người Ấn Độ đã có thể đi sang Đông Nam Á và lúc này, mục đích rõ ràng hơn: họ không phải đến đây tìm vàng nữa mà đến để trao đổi, buôn bán với các xứ khác.

Niddesa, một thư tịch Phật giáo viết bằng tiếng Pali đã ghi nhận, người Ấn Độ đã thường xuyên qua lại ở các địa điểm: Takkola (chợ Đậu khấu) ở Bắc Malaysia, Kupuradvipa (Đảo Long não), Nakikelavidpa (Đảo Dừa) và Đảo Vàng – chỉ vùng Indonesia; với mục đích là buôn bán các sản vật quý, gia vị, hương liệu… với Đông Nam Á để trao đổi với các xứ khác. Đặc biệt thì từ sau Đại hội Phật giáo đầu tiên ở Pataliputra (242 TCN), đại đế của nước Magadha là Ashoka đã khuyến khích các nhà sư, nhà tu hành Ấn Độ sang Đông Nam Á, trước hết là Ceylan, Myanmar, Malayu (thuộc Malaysia)… mà dấu tích còn để lại ở vùng lưu vực Menam: các tượng Phật theo phong cách Dvaravati ở Myanmar; tượng Phật ở Đồng Dương, Sumatra và một số hiện vật ở Óc Eo (An Giang). Tiếp đó, từ thế kỷ I – II thì do Ấn Độ loạn lạc nên làn sóng di cư của người Ấn Độ sang Đông Nam Á ngày càng nhiều hơn, mà nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này có thể là:

Thứ nhất, một số tiểu quốc, vương quốc lớn thấy dân cư của vương quốc mình quá nhiều nên ra chính sách di cư để đưa dân sang nơi khác để tránh sức ép về gia tăng dân số; tiêu biểu là các vương quốc Kushan, Adhra, Gupta… Dưới tác động của chính sách trên, nhiều người Ấn đã di cư sang các vùng đất mới lạ ở Đông Nam Á, thiết lập các khu định cư và thường thì các khu định cư là tên của các địa danh Ấn Độ cũ: Campuchia – tên gốc là Kambuja (một thành phố nổi tiếng ở Tây Bắc Ấn Độ cổ xưa).

Thứ hai, người Ấn Độ di cư mạnh mẽ sang Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng, trước hết là do sự gần gũi về địa lý, sự tương đồng về cơ tầng văn minh nông nghiệp cổ xưa, sự giống nhau về phong tục tập quán, văn hóa dân gian, di tích khảo cổ…

Thứ ba, do nhu cầu tìm sản vật địa phương và mở rộng địa bàn buôn bán mới. Đúng như vậy, việc các lái buôn Ấn thi nhau sang tìm vàng ở khu vực Đông Nam Á đã đẩy nhanh tốc độ giao lưu, giao thoa văn hóa giữa hai khu vực. Do được buôn bán ở Đông Nam Á, người Ấn Độ học được của họ kỹ thuật hàng hải – nghề đi biển, một thứ kỹ thuật mà xưa kia họ chưa hề biết đến, hoặc nếu có thì biết qua sách vở chứ chưa có thực tế. Họ học được nghề đóng thuyền, đóng tàu buồm lợi dụng sức gió mùa của người Ba Tư để chở nhiều người (600 – 700 người), thực hiện chuyến đi dài ngày trên biển và vận chuyển nhiều hàng hóa hơn để sang khu vực Đông Nam Á trao đổi, buôn bán. Để tạo điều kiện cho các chuyến đi biển diễn ra thuận lợi, người Ấn Độ lập chợ búa, hải cảng ở Nam Ấn, Đông Ấn, Java, Malaya… để hoạt động đường biển được tiện lợi hơn.
Thứ tư, đó là do sự phát triển của các tôn giáo, nhất là Phật giáo; các tư tưởng của Phật giáo nhanh chóng phát triển thuận lợi là do giáo lý của nó. Trước kia, người Ấn Độ theo Balamon giáo rất sợ tiếp xúc với người bên ngoài, vì nếu tiếp xúc thì họ sẽ bị xem là “không trong sạch” và bị đuổi ra khỏi đẳng cấp. Quy định ngặt nghèo đó phần nào cản trở việc xuất dương của họ ra bên ngoài. Nhưng các tín đồ Phật giáo đã gạt bỏ những điều cấm đoán đó; dùng tư tưởng “không thành kiến về chủng tộc” của mình để mở đường cho người Ấn Độ di cư sang Đông Nam Á một cách thuận lợi. Tận dụng điều kiện thuận lợi đó, nhiều thương nhân, nhà tu hành vả thủy thủ và cả những vị tu sĩ Balamon đã vứt bỏ thành kiến đã xuất dương sang Đông Nam Á. Đông Nam Á với những mảnh đất xanh tươi màu mỡ, dân cư hiền hòa và hiếu khách đã hấp dẫn họ. Khi định cư hẳn nơi này, họ bắt đầu lập những khu định cư rồi sau đó biến những nơi này thành những trung tâm văn hóa, kinh tế với biểu hiện ngày càng rõ nét của văn hóa Ấn Độ, đồng thời có sự đan xen của văn hóa địa phương.

Ở những nơi thuận lợi, từ các tổ chức kinh tế sơ khởi thì người Ấn Độ bắt đầu hình thành các quốc gia chính trị có tổ chức; và các quốc gia này được người phương Tây gọi là các quốc gia “Ấn Độ hóa” (Hindouisés – từ dùng của Coedes) và thời kỳ này người ta gọi là thời kỳ “Ấn Độ hóa”. Mặc dù cách dùng như vậy chưa đúng lắm vì nhiều quốc gia ở khu vực Đông Nam Á còn đang thời kỳ tiền văn minh, mông muội và những nước này vẫn còn giữ lại bản sắc văn hóa dân tộc riêng mình, khác Ấn. Chúng ta dùng thuật ngữ “Ấn Độ hóa” với 2 ý nghĩa: Một là, “Ấn Độ hóa” là chỉ các quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Ấn Độ; Hai là, “Ấn Độ hóa” còn có ý nghĩa chỉ một quá trình dài ngày diễn ra trong nhiều thế kỷ, thâm chí cho đến nay ngoài hàm ý dẫn dắt, hướng dẫn người dân hướng theo tôn giáo mới (Ấn Độ giáo, Phật giáo), còn cố gắng sàng lọc những cái gì không phải của Ấn Độ và cố gắng cho trào lưu này (ý nói: trào lưu Ấn Độ hóa) được hiện thực hóa trong cuộc sống hàng ngày từ chính trị, kinh tế đến văn hóa – nghệ thuật[5]. Về thực chất, công cuộc “Ấn Độ hóa” của người Ấn Độ đến Đông Nam Á không phải là dùng vũ lực để đánh chiếm, mà là cuộc thâm nhập hòa bình không có kế hoạch nào cả. Các quốc gia này không lệ thuộc vào Ấn Độ mà nó chỉ quan hệ với người Ấn về kinh tế, chính trị, xã hội. Tuy nhiên, kết quả của sự thâm nhập đó là hết sức to lớn: thúc đẩy nhanh quá trình truyền bá văn minh Ấn Độ sang Đông Nam Á, góp phần đẩy mạnh quá trình tan rã của công xã thị tộc bộ lạc và sự hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước ở đây; đồng thời thì ảnh hưởng này cũng lan rộng trong chiều dài lịch sử các nước Đông Nam Á về sau này.

Tag: ân bài 7 nền đa dạng thống 5000 hiểu

About admin

Công Ty Hoá Chất Hanimex - Hanimexchem.com Nhà nhập khẩu và phân phối các loại hóa chất công nghiệp , dung môi công nghiệp
Địa chỉ văn phòng : Số 01 - TT29 -Khu đô thị mới Văn Phú - P. Phú La - Hà Đông - Hà Nội
  • Phòng bán hàng: Mobile / Zalo : 0966.694.823
  • Email :thanhdat@hanimexchem.com
    Website : Hanimexchem.com